Sau thảm họa mất lương thảo trên Lạch Nước Xoáy, khi mùi bùn và xác thối vẫn còn vương vấn trong không khí ẩm lạnh như một lời nguyền rủa vĩnh viễn, quân Nguyên Mông không chỉ phải đối mặt với cái đói cồn cào đến xé ruột gan mà còn bị hành hạ bởi một kẻ thù vô hình và tàn bạo hơn gấp bội: cơn khát. Nó không đánh bằng gươm, bằng tên, mà bằng sự tàn phá từ bên trong, từ từng tế bào, từng mạch máu, từng khớp xương trong cơ thể, rút cạn dần sự sống một cách chậm rãi, đau đớn đến tột cùng. Dọc theo những con đường rút lui đầy gian nan, dù là đường bộ gồ ghề đầy bụi đất khô khốc, nóng rát dưới ánh mặt trời gay gắt, hay đường thủy lênh đênh trên những con sông uốn khúc mịt mờ, sương lạnh bao phủ, tình trạng thiếu nước uống trầm trọng đã đẩy chúng vào bờ vực của sự suy sụp hoàn toàn, cả về thể chất lẫn tinh thần. Mỗi bước chân của chúng là một sự vật lộn đau đớn, nặng nề, tiếng đế giày cọ vào sỏi đá khô khốc nghe chói tai. Mỗi hơi thở là một sự thiêu đốt nơi cuống họng, phổi như đang bị nung trong lò lửa, mỗi nhịp thở lại mang theo cảm giác bỏng rát.
Những tên lính Nguyên, vốn đã kiệt sức vì chiến đấu liên miên không nghỉ, đói khát vì mất lương thực, giờ đây miệng lưỡi khô khốc, nứt nẻ đến rướm máu tươi, từng giọt máu mặn chát thấm vào khóe môi. Những vết nứt sâu hoắm trên đôi môi sưng tấy, đau rát đến mức không thể khép lại hoàn toàn, để lộ hàm răng ố vàng và đầu lưỡi trắng bệch, sưng vù, bám đầy cặn bẩn. Cổ họng chúng rát bỏng như lửa đốt, mỗi khi nuốt nước bọt (nếu còn có) đều như có lưỡi dao cào xé từng lớp niêm mạc mỏng manh. Mỗi hơi thở đều trở nên khó khăn, nặng nhọc, tiếng hít thở khò khè, rít lên từng hồi vang lên đều đặn, nghe như tiếng kéo cưa gỗ mục, dự báo một kết cục bi thảm. Chúng lê bước trên những con đường đất bụi mù mịt, mặt đất nứt nẻ vì nắng khô và hạn hán kéo dài, đôi chân sưng phồng, chai sạn, bước đi xiêu vẹo như những cái bóng vật vờ, đổ gục bất cứ lúc nào. Mồ hôi đã khô cạn từ lâu, chỉ còn lại những vệt muối trắng bám trên bộ giáp sắt gỉ sét và khuôn mặt hốc hác. Hoặc chúng ngồi bơ phờ trên những chiếc thuyền còn sót lại, thân thể rã rời, xương cốt đau nhức, ánh mắt vô hồn nhìn vào dòng sông đang chảy xiết ngay bên cạnh, tiếng nước réo rắt như trêu ngươi, nhưng lại là một thứ xa xỉ không thể chạm tới, như một ảo ảnh hiện thực.
"Nước đâu? Trời ơi, nước đâu rồi? Có ai tìm thấy một giọt nước không? Dù chỉ là một giọt thôi!" Tiếng hỏi yếu ớt, khản đặc vang lên từ một tên lính trẻ, đôi mắt trũng sâu, mí mắt sụp xuống, gần như không thể mở. Nhưng hắn chỉ nhận lại những cái lắc đầu tuyệt vọng từ những đồng đội cũng đang hấp hối, môi chúng khô mím chặt, không thể thốt nên lời. Một tên lính già hơn, râu ria xồm xoàm, chỉ biết thở dốc, đưa tay chỉ về phía dòng sông một cách vô vọng. Nước là sự sống, là thứ quý hơn vàng bạc, châu báu lúc này, nhưng ở Đại Việt lúc này, nước lại trở thành một thứ xa xỉ đến mức không thể mơ tới, thậm chí là hiểm họa chết người.
Quân Nguyên cố gắng tìm kiếm nguồn nước, nhưng mọi nỗ lực đều vô vọng, như mò kim đáy bể. Chúng sục sạo vào những ngôi làng đã bỏ hoang, từng ngóc ngách, từng ngôi nhà đổ nát, hy vọng tìm thấy một cái giếng, một vại nước mưa còn sót lại, một lu nước từ những ngày xưa cũ. Nhưng tất cả những giếng làng đã bị lấp đầy bởi đất đá và cành cây khô, không để lại một kẽ hở nào. Những vại nước đã bị đập vỡ tan tành, những chum sành đã bị đục lỗ, hoặc bị quân Đại Việt tẩm chất độc vào, chỉ cần ngửi qua cũng thấy mùi hăng hắc khó chịu, như mùi thuốc súng cháy khét. Những con suối nhỏ trên đường đã bị chặn dòng bằng đá tảng lớn, cây cối đổ rạp, hoặc bị nhiễm độc bởi các loại lá cây, rễ cây có độc được nghiền nát và thả vào thượng nguồn một cách có tính toán, nước chuyển sang màu nâu sẫm hoặc xanh xám bất thường, bốc mùi lạ. Kế sách "vườn không nhà trống" không chỉ tước đi lương thực mà còn cả nguồn nước uống tinh khiết, đẩy chúng vào thế cùng quẫn, không còn đường nào để xoay sở, sống sót.
"Uống nước sông đi! Ta không chịu nổi nữa rồi! Dù sao cũng là chết! Chết khát còn thảm hơn chết vì độc! Ít ra còn được một lần thỏa mãn!" Một tên lính khát đến điên dại, đôi mắt đỏ ngầu vằn vện những tia máu như có ma ám, lao ra mép sông, mặc kệ những lời can ngăn yếu ớt, những tiếng "đừng!" bị nghẹn lại của đồng đội. Hắn vục đôi bàn tay run rẩy, xương xẩu xuống dòng nước đục ngầu, đưa lên miệng, uống từng ngụm lớn trong cơn khát cháy bỏng, như một con vật khát nước điên cuồng, không còn chút ý thức. Nhưng chỉ vừa nuốt xuống, hắn đã ôm bụng quằn quại, khuôn mặt méo mó vì đau đớn tột độ, nôn thốc nôn tháo ra thứ nước bẩn thỉu lẫn với dịch mật xanh lè, mùi hôi tanh nồng nặc. "Không được! Nước sông... nước sông có độc! Bụng ta! Bụng ta đau quá! Nó đang thiêu đốt ta từ bên trong!" Hắn gào lên trong đau đớn tột cùng, giọng lạc đi vì sự hành hạ, sau đó ngã vật xuống bờ sông, cơ thể co giật dữ dội, sùi bọt mép, đôi mắt trợn ngược trắng dã, trước khi bất động hoàn toàn, thân thể mềm nhũn, chỉ còn là một cái xác vô hồn.
Thực tế, nước sông lại không thể uống được hoặc bị nhiễm độc bởi những mưu kế tinh vi của quân Đại Việt, được thực hiện một cách tỉ mỉ và khoa học, không để lộ bất kỳ dấu vết nào. Có thể là những loại lá cây độc như lá trúc đào, lá ngón, lá khoai môn dại được nghiền nát và thả vào thượng nguồn, khiến nước có vị đắng chát khó nhận ra ban đầu nhưng cực kỳ độc hại, gây suy gan, suy thận, tê liệt thần kinh nhanh chóng. Hoặc đơn giản hơn, là bùn đất, xác chết của quân Nguyên đã bị đánh chìm trong trận trước đó, cùng với xác súc vật, phân hủy, làm ô nhiễm nặng nề nguồn nước, mang theo vô vàn mầm bệnh dịch tả, kiết lỵ, thổ tả. Mỗi ngụm nước sông nuốt vào không chỉ không giải được khát mà còn mang theo bệnh tật, tiêu chảy không ngừng, khiến binh lính càng thêm kiệt sức, mất nước trầm trọng hơn, và cuối cùng dẫn đến cái chết đau đớn, thê thảm, đầy tủi nhục.
Nỗi khát khao sinh tồn trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất, thống trị mọi suy nghĩ của chúng, xóa bỏ mọi kỷ luật và ý chí chiến đấu còn sót lại. Chúng nhìn dòng sông chảy xiết, tiếng nước réo rắt như trêu ngươi, như tiếng cười nhạo báng, nhưng không thể uống một giọt, như nhìn thấy ảo ảnh không thể chạm tới. Chúng nhìn những giọt sương đêm đọng trên lá cây, lấp lánh như kim cương dưới ánh mặt trời đầu tiên, mà không thể với tới để liếm một chút ẩm ướt, dù chỉ là một giọt nhỏ. Nhiều tên lính đã bắt đầu ảo giác vì thiếu nước quá độ, nhìn thấy những dòng suối trong vắt đang chảy rì rầm, những hồ nước mát lành ngay trước mắt, nghe tiếng suối reo, rồi lại thất vọng tột độ khi nhận ra đó chỉ là ảo ảnh do cơn khát tạo ra, và lại gào lên trong cơn điên loạn, cào cấu chính da thịt mình. Chúng tuyệt vọng cào cấu mặt đất khô cằn, bới tìm một chút ẩm ướt, dù là bùn non hay một giọt nước đọng dưới tảng đá rêu phong. "Chúa ơi, cho con một giọt nước! Chỉ một giọt thôi, con xin ngài! Con nguyện dâng cả đời cho ngài!" Một tên lính rên rỉ, hai tay chắp lại cầu nguyện, khuôn mặt đầy nước mắt và bùn đất, trông thật thảm hại.
"Ta thà chết dưới lưỡi kiếm của quân An Nam còn hơn chết vì khát thế này! Thật là nhục nhã! Ta là chiến binh Mông Cổ vĩ đại! Ta sẽ không bao giờ đầu hàng đói khát!" Một tên lính khác gào lên, đôi mắt đỏ ngầu, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn và phẫn uất tột độ, hắn cố gắng vùng vẫy nhưng cơ thể đã quá yếu ớt. Chúng cố gắng ngậm những viên đá cuội nhỏ để kích thích nước bọt, hoặc cắn vào tay mình để cảm nhận một chút ẩm ướt, một chút máu tươi, nhưng tất cả đều vô ích, chỉ làm vết thương thêm trầm trọng, máu rỉ ra thêm chút mặn chát trên đầu lưỡi, càng thêm khao khát nước.
Từng giờ trôi qua, số lính Nguyên gục ngã vì kiệt sức và mất nước ngày càng tăng lên theo cấp số nhân, rải rác khắp các con đường, bờ sông, như những con thiêu thân bị lả cánh. Chúng không còn sức để vác vũ khí nặng nề, những thanh kiếm, cung nỏ, mũ trụ, giáp sắt rỉ sét rơi lả tả xuống đất, nằm lăn lóc bên những xác chết đã bắt đầu phân hủy. Chúng không còn khả năng tự vệ, chỉ còn là những cái bóng vật vờ, lê lết, kéo lê đôi chân sưng tấy, chờ đợi cái chết đến như một sự giải thoát cuối cùng khỏi cơn hành hạ. Hình ảnh những chiến binh Mông Cổ hung hãn, thiện chiến ngày nào, từng gieo rắc kinh hoàng khắp thế giới, từng được mệnh danh là "thiên binh thần tướng" không thể bị đánh bại, giờ đây chỉ còn là những cái xác khô héo, rách rưới, vật vờ, những bộ giáp trụ rỉ sét, trĩu nặng trên thân thể gầy gò, trơ xương, bị chính thiên nhiên và mưu trí của đối phương đánh bại. Cơn khát đã trở thành một kẻ thù vô hình đáng sợ hơn cả quân Đại Việt, từ từ bóp nghẹt sự sống của chúng, đẩy quân Nguyên Mông vào vực thẳm của sự thất bại toàn diện, một thất bại không đến từ sức mạnh vũ trang, mà từ sự tàn phá của thiên nhiên và mưu trí tuyệt đỉnh của con người Đại Việt.